Monday, February 25, 2013

Japanese skincare

Terms:

  • さっぱり: "Refresh", for oily skin
  • ややしっとり: "Slight moist", for oily combo
  • しっとり: "Moist", suitable for normal/dry-combo skin (probably the most popular choice)
  • とてもしとり, 超しっとり: "Very Moist", suitable for dry skin
Substances:
  • m-トラネキサム酸 (m-tranexamic acid): protect the skin from hyper pigmentations
  • ヒアルロン酸 (hyaluronic acid): moisturize
  • コラーゲン (collagen)
Steps:
  • クレンジング洗顔 (Cleansing): Cleansers such as Biore's face wash, or solution containing 豆乳イソフラボン (とうにゅう; isoflavone)
  • 化粧水 (けしょうすい, = "makeup water" but really means "face lotion"): for akin conditioning (mostly moisturizing, +/- whitening, preventing wrinkling). Select しっとり or さっぱり,... For examples: ベビーモイストローション (brand: バリアリペア [Barrier Repair], by マンダム [Mandom], containing ヒアルロン酸 [hyaluronic acid]); 豆乳イソフラボン SANA (by 常盤薬品 [Tokiwa Yakuhin]); Shiseido (資生堂) Aqualabel White AC lotion; Aqualabel White Up Lotion (types: S = さっぱり; R = しっとり; RR = とてもしっとり)
  • 乳液 (にゅうえき, finishing with an emulsion). For examples: 豆乳イソフラボン SANA; 保湿クリームからつくった乳液 (ほしつ = moisturizing cream; by 資生堂)
  • メイク落とし / 化粧落とし (おとし): for heavy, durable make-up. For examples: うる落ち水クレンジング
ベースメイク:
  • ファンデーション (foundation). For examples: ビューティフルスキン パクト UV (powder, by コーセー)
  • Base: adjust skin tone, make powder foundation last longer. For example: ミネラルベース (インテグレート [Integrate), by 資生堂)
Ref:
- http://rinalena.wordpress.com/tag/skincare/
- http://www.bangbangsheshoots.com/
- http://www.cosme.net/

Sunday, December 30, 2012

i hay y

Có danh sách i/y ở cuối bài.

Nguồn: http://ngonnguhoc.org/index.php?option=com_content&view=article&id=605:ban-tip-v-chuyn-i-ngn-y-dai

BÀN TIẾP VỀ CHUYỆN I NGẮN Y DÀI
Đào Tiến Thi
(NXB Giáo dục Việt Nam)

Trong một số bài viết trước đây[1], chúng tôi đã đưa ý kiến về 2 hình thức chính tả ghi âm /i/ khi âm này đi sau 6 phụ âm /h, k, l, m, s, t/ trong vần mở (không có âm cuối); ở đây hiện có hai quan điểm: tất cả đều viết i và quan điểm phân biệt i/y (từ đây quy ước cách gọi: nhất thể i phân biệt i/y). Chúng tôi không nhất trí quan điểm nhất thể i vì:

 - Nhất thể i dẫn đến lợi bất cập hại. Vì mất đi sự phân biệt nghĩa các yếu tố đồng âm: cọ/ kỳ vọng, ti trôn/ công ty,… và mất sắc thái văn hoá: viết khác viết trong tên riêng,... ‚
- Về chính tả, viết phân biệt i/y không phải là khó khăn không thể vượt qua, vì ngoài thói quen, có thể phân biệt bằng bằng tiêu chí từ thuần ViệtHán Việt.

Trong bài này, chúng tôi xin nhấn mạnh và bàn tiếp một số điểm cho thấu đáo hơn.

1. Việc nhất thể i và sự lộn xộn i/y bắt đầu từ bao giờ?

1.1. Xem lại các sách báo, chúng tôi thấy rải rác từ lâu, đã có hiện tượng viết lẫn lộn i/y nhưng rất ít. Nhìn chung, sách báo trước năm 1980 – tức là trước khi có quy định của Bộ Giáo dục nhất loạt i thì việc viết phân biệt i/y khá phân minh. Việc nhất thể i cũng như hiện tượng viết lộn xộn i/y bắt đầu từ khi có Một số quy định về chính tả trong sách giáo khoa cải cách giáo dục ban hành ngày 30-11-1980 (gọi tắt là Quy định 1980), do Thứ trưởng Bộ Giáo dục Võ Thuần Nho và Phó Chủ nhiệm UBKHXH Phạm Huy Thông ký. Văn bản này (không ghi số) quy định như sau:

“Riêng trường hợp các âm tiết có nguyên âm i ở cuối thì viết thống nhất bằng i, trừ uy, như duy, tuy, quy,...; thí dụ: kì dị, lí trí, mĩ vị.

Chú ý: i hoặc y đứng một mình hoặc đứng đầu âm tiết vẫn viết theo thói quen cũ, thí dụ: ý nghĩa, y tế, ỉ eo, im, yêu”..

Ngày 5-3-1984, Bộ Giáo dục lại có Quyết định số 240/QĐ Quy định về chính tả tiếng Việt và thuật ngữ tiếng Việt (Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình ký, gọi tắt là Quy định 1984). Quy định này không đề cập cụ thể trường hợp i/y mà viết chung như sau:

“Về những từ tiếng Việt mà chuẩn chính tả hiện nay chưa rõ, có thể nhận thấy những trường hợp chủ yếu sau đây, và đối với mỗi trường hợp, nên dùng tiêu chí thích hợp. Cụ thể là:
a) Dùng tiêu chí thói quen phát âm của đa số người trong xã hội, mặc dù thói quen này khác với từ nguyên (gốc Việt hay gốc Hán). Thí dụ:chỏng gọng (tuy là chổng gọng theo từ nguyên); đại bàng (tuy là đại bằng theo từ nguyên)
b) Dùng tiêu chí từ nguyên khi thói quen phát âm chưa làm rõ một hình thức ngữ âm ổn định. Thí dụ: trí mạng (tuy cũng có gặp hình thức phát âm chí mạng)
c) Khi trong thực tế đang tồn tại hai hình thức chính tả mà chưa xác định được một chuẩn duy nhất, thì có thể tạm thời chấp nhận cả hai hình thức ấy, cho đến khi nào thói quen sử dụng nghiêng hẳn về một hình thức. Thí dụ: eo sèoeo xèo; sứ mạngsứ mệnh.

Quyết định số 240/QĐ còn ghi rõ: “Những quy định trước đây trái với quyết định này đều bãi bỏ”. Có nghĩa là kể từ 5-3-1984, Quy định 1980, trong đó có việc nhất thể i, đã không còn giá trị. Không hiểu sao sau đó Quy định 1980 vẫn được in lại nhiều lần trong các giáo trình tiếng Việt (?).

Quy định 1984 ra đời trên cơ sở Quyết nghị của Hội đồng chuẩn hoá chính tả (GS. Phạm Huy Thông làm chủ tịch) và Hội đồng chuẩn hoá thuật ngữ (GS. Nguyễn Cảnh Toàn làm chủ tịch). Hai hội đồng này thành lập từ 25-12-1982, qua xem xét nhiều góp ý và qua nhiều phiên thảo luận, cuối cùng đã ra Quyết nghị ngày 1-7-1983. Trong Hội đồng chuẩn hoá chính tả có GS. Hoàng Phê, về sau chủ biên Từ điển tiếng Việt, in lần đầu năm 1988, được tái bản nhiều lần. Trong tham luận, Hoàng Phê đề nghị nhất thể i trong 6 âm tiết mở (viết hi, ki, li, mi, si, ti) Nhưng như ta thấy, điều này không có trong Quy định 1984 cũng như trong Quyết nghị, chứng tỏ đó chỉ là ý kiến cá nhân. Và khi làm Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê vẫn chấp nhận cả cách viết hy, ky, ly, my, sy, ty, chỉ có điều ông chọn hình tức i ngắn để giải nghĩa, còn hình thức y dài thì chuyển chú. Chỗ này làm nhiều người lầm tưởng hình thức i ngắn là chuẩn duy nhất.

1.2. Như vậy, có thể thấy sự tồn tại hai cách viết hiện nay là do:  Việc nhất thể i trong Quy định 1980 được thực thi ở sách giáo khoa cải cách giáo dục, bắt đầu từ 1980 (lớp 1), hoàn tất 1992 (lớp 12). Trong khoảng thời gian đang thay sách thì có văn bản mới thay thế. Tuy nhiên NXB Giáo dục vẫn tiếp tục cách viết nhất thể i. Phải chăng để khỏi “tiền hậu bất nhất”, những người làm sách đã vận dụng phần “để ngỏ” trong Quy định 1984? Hoặc họ là những người ủng hộ quan điểm nhất thể i. Vì như ta thấy, trong đợt thay SGK mới đây (2002 – 2008), NXB Giáo dục và NXB Đại học Sư phạm (Hà Nội) vẫn tiếp tục nhất thể i. Cả một lớp người đông đảo đã được nhất thể i thông qua ghế nhà trường suốt 30 năm qua! ‚

Mặt khác, các cơ quan xuất bản và báo chí không thuộc Bộ Giáo dục không chịu sự tác động pháp lý của các văn bản trên vẫn tự lựa chọn chính tả theo quan niệm của mình, cho nên hầu hết họ vẫn duy trì việc phân biệt i/y như trước năm 1980. Tìm hiểu sách của 49/59 nhà xuất bản hiện nay chúng tôi thấy 46 nhà xuất bản vẫn phân biệt i/y. Khảo sát hơn 100 tờ báo và tạp chí (viết), cũng chỉ thấy mấy tạp chí chuyên ngành ngôn ngữ là nhất thể i, gồm Ngôn ngữ (Viện Ngôn ngữ học), Ngôn ngữ và đời sống (Hội Ngôn ngữ học Việt Nam), Từ điển học và bách khoa thư (Viện Từ điển và Bách khoa thư Việt Nam), còn lại đều viết phân biệt i/y, kể cả một số báo và tạp chí của ngành giáo dục như Giáo dục và thời đại, Thế giới mới, Thế giới trong ta. Một số tác giả có sách ở NXB Giáo dục đã đề nghị phân biệt i/y trong một số sách nghiên cứu. Các tên riêng trong sách của NXB Giáo dục, trước áp lực của xã hội, cũng dần đổi từ i ngắn sang y dài.

2. Những hệ luỵ của việc nhất thể i ngắn

Những tác giả muốn nhất thể i để tránh “bất hợp lý” nhưng thực ra lại lâm vào những hệ luỵ khác.

2.1. Việc nhất thể i chỉ giải quyết được mỗi một lý do về ngữ âm học: 1 âm chỉ ghi bằng 1 chữ. Nhưng chữ viết, dù là chữ ghi âm, đâu chỉ có mỗi việc là ghi lại phát âm. Ngoài ghi âm, trong nhiều trường hợp, nó còn ghi lại ý nghĩa hoặc thoả mãn một khía cạnh văn hoá, lịch sử. Lấy thí dụ đơn giản, những cách viết Bắc Kạn, Kon Tum (tên đất), Ba Cul, Hai Buôl (tên người) là “sai” chính tả, nhưng nó có lý do tồn tại (không đơn giản rằng đó chỉ là “chiều” theo sở thích của cá nhân). Ngay hình thức chính tả i/y cũng không thể nhất thể i trường hợp /i/ một mình làm âm tiết: (khóc) i ỉ/ y tế, ầm ì/ sức ỳ, ỉ eo/ ỷ lại, í ới/ ý nghĩa,…

2.2. Sự không “ăn khớp” giữa âm và chữ của chữ QN là không nhỏ[2]. Theo lý thuyết thì điều này gây khó khăn cho chính tả, nhưng thực tế cũng không khó khăn lắm, do khi  viết có hiện tượng “nhớ mặt chữ” chứ không phụ thuộc tất cả vào phát âm. Cái sự “bất hợp lý” i/y là quá nhỏ so với hàng loạt trường hợp “bất hợp lý” khác.

Giả sử tại thời điểm này, nếu sáng tạo ra một thứ chữ quốc ngữ mới, thì hoặc là dựa hẳn vào ngữ âm của một vùng (chọn làm chuẩn) và những vùng khác phải chấp nhận vênh lệch, hoặc là chấp nhận một chính tả “siêu phương ngữ” với những vênh lệch khác nhau của tất cả các vùng (như tình trạng hiện nay). Và như vậy, dù một thứ chữ mới tinh cũng vẫn “bất hợp lý” như thường.

2.3. Có lập luận cho rằng chữ viết bị cố định trong khi ngữ âm luôn biến đổi, đến một lúc nào đó sẽ tạo ra “bất hợp lý”, do đó việc cải tiến chữ viết là cần thiết. Nhưng thử xem, chỉ cần cải tiến vài lần như vậy, đến một lúc nào đó, con cháu sẽ không đọc được chữ của ông cha nữa! Kinh nghiệm của người Anh, người Pháp cho thấy không cần và không nên sửa đổi chữ viết. Thực ra, họ đã từng có xu hướng muốn cải cách chữ viết[3]. Nhưng họ đã mau chóng nhận ra sai lầm và đến nay “hoạ chăng chỉ những người không được bình thường may ra mới còn nghĩ đến chuyện cải cách chính tả Anh hay Pháp, mặc dù so với chữ QN, hai chính tả này còn xa cách phát âm gấp bội[4].

Chúng tôi nghĩ bất cứ ai chỉ cần nghe giảng 30 phút cũng thấy ngay tất cả mọi “bất hợp lý” của chữ QN, chứ không chỉ i/y. Nhưng chữ QN với hình thức chính tả như hiện nay đã ổn định khoảng gần một trăm năm mà không gặp khó khăn gì đáng kể. Tóm lại, sự nhất thể i không đem lại sự sang giàu gì hơn cho chữ QN.

2.4. Sẽ vẫn có người bảo sáp nhập i/y thì ít nhất cũng đỡ rắc rối về một trường hợp chính tả. Điều này cũng không chính xác. Hiện nay vẫn tồn tại nhiều “bất hợp lý” hơn thế mà không gây khó khăn đáng kể, ví dụ:
– Trường hợpmột âm ghi bằng 2, 3 cách như g/gh, ng/ngh, c/k/q. Cả 3 trường hợp này tuy đều có quy tắc (đứng trước i, e, ê thì viết gh, ngh, k), nhưng thực tế đại đa số người viết không biết đến quy tắc mà vẫn viết đúng. >br>–Loại chính tả d/gi không có cả quy tắc ngữ âmnhưng cũng không khó khăn lắm. Ngoại trừ vài trường hợp ít dùng, đại đa số người Việt viết đúng một cách rất tự nhiên do phân biệt nghĩa nhớ mặt chữ.Trường hợpi/y rất giống d/gi nhưng còn dễ hơn vì chúng có số lượng ít hơn và gần như hoàn toàn thuộc về hai lớp từ đối lập (Hán Việt và thuần Việt), có thể khái quát thành quy tắc (xem phần 3).

2.5. Một vài nhà xuất bản chủ trương nhất thể i nhưng lại “chiếu cố” tên riêng cho phép viết y dài, sinh ra tiền hậu bất nhất trong một số trường hợp. Ví dụ, viết mĩ lệ, mĩ thuật, thẩm mĩ, còn tên riêng thì viết Mỹ Lệ, (Trương) Mỹ Hoa, Chương Mỹ, Phú Mỹ, trong khi các chữ “mỹ” này đều có nghĩa là “đẹp”.

2.6. Đối với những từ ngữ và tên riêng nước ngoài chứa y, nếu biến thành i sẽ mâu thuẫn với chủ trương phiên chuyển (phiên âm kết hợp chuyển tự) là hình thức đang được số đông đề nghị hiện nay[5]. Ngược lại, nếu giữ y, sẽ giữ được hình thức sát nguyên ngữ hơn: hydrogenium ® hy-đrô; Myanmar ® My-an-ma.

Nói tóm lại, việc nhất thể i cũng giống như đề xuất nhất thể nhiều trường hợp khác (d/gi; c/k/q,…) chỉ là lý tưởng “hoàn thiện” chữ QN, sao cho hệ thống chữ cái khớp một cách “chằn chặn” với hệ thống âm vị[6], nghĩa là chỉ để thoả mãn cái lý thuyết về loại hình chữ ghi âm của chữ QN, chứ không giải quyết được gì cả. Chưa kể, nó còn phá hoại một hệ thống đã ổn định, đã hợp lý. Điều này cũng phi lý như một số người chủ trương ngược lại: đặt ra một chuẩn chính âm theo sát hệ thống chữ viết hiện hành, mà nếu thực hiện được nó sẽ phá hỏng cả tiếng Việt[7]. Còn bảo để giải quyết vấn đề lỗi chính tả thì đó chỉ là việc làm vô ích. Tình trạng viết sai chính tả do những nguyên nhân khác[8], không phải do những “bất hợp lý” của chữ viết hay do chưa có chuẩn chính âm.

3. Tiếp tục “cái lý y dài

3.1 Việc phân biệt i/y cho đến nay vẫn được duy trì ở nhiều khu vực, hẳn là có lý do của nó. Như trên đã nói, 46 nhà xuất bản và hầu hết báo chí vẫn viết phân biệt i/y, chỉ có 3 nhà xuất bản nhất thể i là Giáo dục, Đại học Sư phạm và Từ điển Bách khoa.

3.2. Khảo sát sách của NXB Giáo dục xuất bản trước 1980 và của các nhà xuất bản viết phân biệt i/y hiện nay, chúng tôi thấy về cơ bản là viết đúng (chỉ trường hợp kĩ/ kỹ là có nhầm lẫn). Như vậy, không thể lấy lý do “khó viết” mà nhập i/y làm một. Trước khi có Quy định 1980, việc phân biệt i/y đã khá ổn định. Sự “nhiễu” i/y chỉ bắt đầu từ khi có Quy định 1980. Phát biểu tại Hội nghị về tình hình chính tả trong văn bản tiếng Việt ngày 28-7-2010, GSTS. Trần Trí Dõi cũng nhận xét như vậy: “Cách viết i y thống nhất thành i không có trong Quyết định 240/QĐ ngày 5-3-1984 của Bộ Giáo dục. Người ta chỉ thấy đó là cách dùng riêng trong sách giáo khoa của NXB Giáo dục sau khi “cải cách giáo dục và sách giáo khoa”. Vì thế, nó đã không được cộng đồng sử dụng ngôn ngữ đồng thuận chấp nhận”.

3.3. Trong chừng mực nhất định, chúng tôi cũng đã tìm hiểu dư luận xã hội. Các ý kiến phản hồi chúng tôi nhận được gần như không có ai coi nhất thể i là hay, nhất là trong các trường hợp ti trôn/ công ty, bé tí/ tuổi tý, kì cọ/ quốc kỳ, (cười) hi hi/ hy sinh, tức là khi cần phân biệt sắc thái khẩu ngữ với trang trọng, giữa tính gợi tả với tính trừu tượng.

Về mặt mỹ thuật, dư luận chung đều cho rằng viết y “đẹp” hơn. Theo chúng tôi, hình thức y “đẹp mắt” hơn i vì trước hết do chính sắc thái nghĩa của từ ngữ khi viết y (từ Hán Việt) mang lại. Nhưng cũng có một phần lý do “hình thể”. Y có nét lượn, tạo sự uyển chuyển. Hơn nữa, khi đi với các chữ cái h, k, l, m, s, t (chữ thường) nó tạo ra sự hài hoà, cân đối do có cả nét đi lên và nét đi xuống (phía dưới dòng kẻ). Hãy so sánh: công ti/ công ty, hi vọng/ hy vọng, hí viện/ hý viện, quốc kì/ quốc kỳ, thư kí/ thư ký, nguyên lí/ nguyên lý, biệt li/ biệt ly, thẩm mĩ/ thẩm mỹ, hoạ sĩ/ hoạ sỹ,v.v.. Chính vì thế, trong tên riêng, gần như gần 100% người ta chọn y dài. Hầu hết các báo và tạp chí, các tên cơ quan, tổ chức, tên cửa hàng, cửa hiệu, các biển quảng cáo đều chọn y dài (tất nhiên là chỉ đối với từ Hán Việt).

Khi tôi viết những dòng này, cả nước đang hướng về đại lễ một nghìn năm Thăng Long Hà Nội. Hàng ngàn biểu ngữ treo hai bên đường phố đều viết KỶ NIỆM, dòng chữ trang trọng nhất đặt vườn hoa Lý Thái Tổ cho khai mạc đại lễ viết:

ĐẠI LỄ KỶ NIỆM 1000 NĂM THĂNG LONG HÀ NỘI

Trong trường hợp này không thể viết KỈ (i ngắn), dù KỈ là hình thức “chuẩn” ghi trong nhiều từ điển hiện nay.

Đây là minh chứng cho cảm thức của số đông. Trong ngôn ngữ, cảm thức của số đông ít khi vô lý. Học giả Cao Xuân Hạo viết: “Bản thân nó (cảm thức ngôn ngữ của số đông - ĐTT) có thể không phải là một sự kiện ngôn ngữ chính danh, nhưng nó là cái phản ánh chân xác của một sự kiện khách quan của ngôn ngữ. Công việc của nhà ngữ học chính là phát hiện và trình bày ra một cách hiển ngôn những sự kiện khách quan được phản ánh trong cảm thức bất tự giác của người bản ngữ. Và xưa nay các nhà ngữ học, (...) mỗi khi thủ pháp của họ đưa tới một kết quả trái với cảm thức ấy, họ thường phải từ bỏ quan điểm ban đầu để tìm cách đi đến một kết quả phù hợp với cảm thức ấy hơn”[9].

Chúng tôi nghĩ chỉ riêng thực tế trên cũng đủ để các nhà ngữ học xem lại quan điểm nhất thể i.

3.4. Tuy nhiên bây giờ đặt vấn đề viết phân biệt i/y vẫn khiến nhiều người băn khoăn. Quả thực, ở thời điểm hiện nay, viết phân biệt i/y gần như là “cái mới” (sự thực chỉ là trở lại), vì qua ba thập niên, thói quen nhất thể i đã hình thành ở không ít người. Cho nên băn khoăn nhiều nhất vẫn là tính khả thi. Thực ra chỗ này mới nghĩ thì tưởng khó nhưng xem xét kĩ thì thấy vấn đề đơn giản hơn nhiều. Hai thực tế sau đây rất đáng lưu ý:

3.4.1. Chữ QN tuy là chữ ghi âm nhưng khác rất xa các chữ Ấn Âu. Trong các ngôn ngữ Ấn Âu, gần như phải phát âm đầy đủ từng âm vị, thì tiếng Việt phát âm thành từng âm tiết (tiếng), dù âm tiết đó gồm bao nhiêu âm vị thì cũng chỉ phát âm một lần, tiếng có nhiều âm vị cũng có độ dài như tiếng chỉ có một âm vị. Mỗi âm tiết là một khối “tròn vành rõ chữ”, không nối sang nhau (kiểu như Thank you cuả tiếng Anh). Cho nên trong khi các chữ viết Ấn Âu phải ghi từng âm vị thì chữ QN ghi lại âm tiết (tiếng).

Điều này rất hiển nhiên nhưng khi vận dụng hệ quả của nó vào chính tả thì lại chỉ có một số ít tác giả nhận thấy. Đó là hiện tượng tiếng Việt chỉ có một số lượng âm tiết nhất định (theo một số thống kê, khoảng 6000). Trong phát biểu mới đây (28-7-2010, đd), GS. Trần Trí Dõi  cũng khẳng định: “Theo nhận thức của chúng tôi, đúng như GS Hoàng Phê đã chỉ ra “chính tả tiếng Việt đơn thuần là chính tả âm tiết”. Thành thử khi chúng ta kiểm soát được số lượng âm tiết lưu hành trong thực tế tiếng Việt thì việc quy định chính tả cũng là một điều có thể làm được và hoàn toàn không khó khăn trong việc sử dụng”.Số âm tiết cần phân biệt về chính tả lại ít hơn nhiều so với tổng số âm tiết nói trên (theo một số tác giả, đối với người Bắc Bộ, cần khoảng 1950 ©m tiÕt – chiếm 29% tổng số ©m tiÕt). Thực tế lại ít hơn thế nữa. Ví dụ, khi viết ch/tr, d//gi, s/x, chỉ có một số trường hợp khó, chứ những trường hợp như quả chanh/ đấu tranh, da thịt/ gia đình,… thì hầu như chẳng mấy ai phải băn khoăn. Trường hợp i/y còn đơn giản hơn d/gi nhiều.

Tình hình đó khiến ta yên tâm việc phải ghi nhớ: với một số lượng nhỏ những chữ “có vấn đề” về chính tả thì hoàn toàn có thể ghi nhớ được, dễ hơn nhiều so với việc phải sửa phát âm hay phải nhất thể chữ viết (i/y, d/gi,…).

3.4.2. Mặt khác, việc ghi nhớ cũng không hoàn toàn là máy móc, nếu chúng ta biết đến hiện tượng gestalt (chúng tôi đã đề cập trong bài trước), đó là cách tri nhận tổng thể, toàn bộ của thần kinh thị giác giúp ta đọc chữ như tri giác những hình ảnh khác trong thế giới khách quan. Trẻ em bắt đầu học chữ có thể “đánh vần” (ghép từng âm vị) tương tự như cách đọc chữ Ấn Âu, nhưng khi quen rồi thì đọc thành từng tiếng - chữ,mỗi chữ đúng một tiếng, mỗi tiếng đúng một chữ. Do đặc thù này, nên mặc dù là chữ ghi âm nhưng theo chúng tôi, chữ QN ít nhiều có tính ghi ý hoặc chứa sẵn tiềm năng ghi ý. Điều này giải thích tại sao phương ngữ Nam Bộ có ngữ âm xa rời chữ viết khá lớn mà người Nam Bộ, chỉ trừ người học vấn quá thấp, ít đọc (chưa quen mặt chữ), còn thì việc viết đúng chính tả là chuyện không đến nỗi quá khó khăn.

Có thể kiểm nghiệm tính ghi ý của chữ QN khiđọc các chữ tắt tiếng Việt, đó là đọc thẳng các chữ gốc hệt như khi viết đầy đủ: HS, GV, BS, GSTS, HTX, XHCN, TTXVN, TCN = học sinh, giáo viên, bác sỹ, giáo sư tiến sỹ, hợp tác xã, xã hội chủ nghĩa, thông tấn xã Việt Nam, trước công nguyên (chứ không đọc hát ét, giê vê, bê ét, giê ét tê ét, hát tê ích-xì, ích-xì hát xê en-nờ. tê tê ích-xì vê en-nờ). Trong khi tiếng Anh đọc từng chữ cái hoặc ráp vần: BBC /bi:bi:si:/ = British Broadcasting Corporation (Tập đoàn Truyền thanh Anh), NATO /neitou/ = North Atlantic Treaty Organization (Minh ước Bắc Đại Tây Dương).

Hiện tượng trên cho thấy việc đọc chữ QN giống như đọc các “hình ảnh” (mỗi chữ - tiếng là một “hình ảnh”) mà số “hình ảnh” này là có hạn, cho nên “quen” đến nỗi nhìn cái là nhận ra, bỏ qua khâu “đánh vần”. Và do đó hoàn toàn có thể nhớ “mặt chữ”.

3.5. Với đặc thù trên, ta có thể liệt kê một số lượng từ/ từ tố - chữ viết dùng i hoặc y để ghi nhớ theo quy tắc: từ thuần Việt viết i, từ Hán Việt viết y. Với đại đa số chỉ cần ghi nhớ, không cần biết đâu là thuần Việt, Hán Việt, nhưng muốn muốn xác định cũng không khó lắm, dựa vào các đặc trưng sau:

Đặc trưng Thuần Việt Hán Việt
Khả năng kết hợp của từ tố Dùng độc lập: hai con sông, ba quả núi, bốn nước,.. Không dùng độc lập: không nói hai , ba sơn, bốn quốc,…
Tính biểu cảm Có nghĩa cụ thể, hình tượng: con gái, đàn bà, con đĩ,.. Có nghĩa khái quát, trừu tượng: thiếu nữ, phụ nữ, kỹ nữ,…
Màu sắc phong cách Sắc thái thông tục, khẩu ngữ, bình dân: vợ, chồng, anh em,.. Sắc thái chính quy, trang trọng, bác học: phu nhân, phu quân, huynh đệ,…

Riêng đối với các từ chứa tiếng vần /i/ có phụ âm đầu /h, k, l, m, s, t/ đang bàn, ngoài đặc điểm trên, còn có hiện tượng này dễ nhận ra:
– Các từ thuần Việt (viết i), hầu hết là từ đơn hoặc từ láy: hí hoáy, kì cạch, kì kèo, lì loà, lí nhí, sì sụp, ti hí, ti toe,…
– Các từ Hán Việt (viết y) hầu hết là từ ghép: hy vọng, hiếu hỷ, hý khúc, kỳ dị, nguyên lý, tỷ lệ, tỵ địa, công ty,…

Tất nhiên vẫn có một vài ngoại lệ, đó là chuyện bình thường trong ngôn ngữ. Bản liệt kê dưới đây cung cấp danh sách từ và từ tố thông dụng.

H-: hi, hì, hí, hi hi, hì hì, hí hí (mô phỏng tiếng cười/ tiếng khóc), (ngựa) hí, hì hục, hì hụi, hỉ hả, hỉ mũi, hí hoáy, hí húi, hí hửng, hí hởn; hủ hỉ, hỉ hả (biến âm của hể hả) ; hậu hĩ*; hị hị (tiếng khóc); hy sinh (hy, sinh: những con vật để tế thần ® chỉ cái chết cao cả hoặc bỏ hết quyền lợi để làm việc nghĩa); hy vọng (hy: trông mong), hy hữu (hy: ít); hiếu hỷ, hoan hỷ, song hỷ, nhị hỷ, hỷ xả,… (hỷ: vui); du hý, hý kịch, hý khúc, hý trường, hý viện (: vui đùa), (cây) hy thiêm, (khí) hy-đrô.

K-:ki bo, ki cóp, ki-lô-gam, ki-ốt, kì cạch, kì cọ, kì kèo, kì cùng, kì đà, kì giông, kí (ki-lô-gam), kí ninh (quinin); kĩ càng, cũ kĩ, cụ kị ; quốc kỳ, kỳ đài, cầm kỳ thi tửu (kỳ: cờ), học kỳ, kỳ thi, kỳ nghỉ, trường kỳ (kỳ: khoảng thời gian nhất định để làm một việc hay xảy ra một sự việc); kỳ ảo, kỳ lạ, ly kỳ, kỳ diệu, kỳ binh, kỳ dị, kỳ ngộ, kỳ quan, kỳ quái, kỳ tài, kỳ vĩ (kỳ: lạ), kỳ cựu, kỳ hào, kỳ mục (kỳ: già cả), kỳ lân (con vật tưởng tượng), kỳ thị (kỳ: không đều), kỳ vọng (kỳ: trông mong); kỷ cương, kỷ luật (kỷ: phéptắc), kỷ yếu, kỷ lục, kỷ niệm (kỷ: ghi chép), thế kỷ (kỷ: khoảng thời gian); ca kỹ, kỹ nữ (kỹ: múa/ mãi dâm; phụ nữ làm nghề hát xướng thường bị lợi dụng hành nghề mại dâm); kỹ năng, kỹ sư, kỹ thuật, kỹ nghệ, kỹ xảo (kỹ: khéo); ký âm, ký chú, du ký, chữ ký, ký giả, ký hiệu, ký hoạ, ký kết, ký sự, thư ký, ký ức (: ghi chép), ký gửi, ký sinh, ký thác, ký túc xá (: gửi); kỵ khí, đố kỵ (kỵ: ghét); kỵ binh, kỵ mã, kỵ sỹ (kỵ: ngựa); kỵ nhật (kỵ: cấm – ngày giỗ tức ngày chết của cha mẹ coi là ngày cấm).

L-: (cái) li, li-e, chi li*, cu li, mi li (nói tắt của milimet/ miligam), (ngủ) li bì, (nhỏ) li ti, li-ti (tên một nguyên tố), lâm li*, va li, lì, phẳng lì, nhẵn lì, lì loà, lì lợm, lì xì, (nói) lí nhí, lũ lĩ, (mà, chứ) lị, kiết lị; ly (một quẻ trong bát quái), cách ly, ly cách, biệt ly, ly biệt, ly gián, ly hận, ly hôn, ly khai, ly tán, ly tâm (ly: lìa ra); địa lý, vật lý, nguyên lý, lý thuyết, lý do, lý giải, lý luận, lý sự, lý thú, lý tính, lý trí, lý tưởng (: lẽ, nguyên do), hương lý, hào lý, lý trưởng (: làng), hải lý, đường thiên lý (: dặm), lý lịch (: thực tiễn, làm việc); tỉnh lỵ, quận lỵ, lỵ sở (lỵ: sở, nơi chốn).

M- (nốt) mi, (nhà) mi, mi-ca, mi-crô, mi mắt, cù mì, lúa mì, khoai mì, mì sợi, mì chính*, mí (lại), rễ mí,tỉ mỉ, mụ mị* ; tu my, nga my (my: lông mày), nhu mỳ (mỳ: biến âm của mỵ - “đẹp” (?); mỹ cảm, mỹ học, mỹ lệ, mỹ mãn, mỹ miều*, mỹ nhân, mỹ nữ, mỹ phẩm, mỹ quan, mỹ thuật, mỹ tục, mỹ từ, mỹ tửu (mỹ: đẹp); mỵ dân, ma mỵ (mỵ: làm cho người ta mê), uỷ mỵ, kiều mỵ, thuỳ mỵ, mỵ nương (mỵ: đẹp đẽ).

S-:cây si, nốt si, si-lic, đen sì, hôi sì, hàn sì, sì sụp, mua sỉ (mua buôn) ; ngu sy, sy tình, sy mê (sy: ngu, ngốc), quốc sỷ, sỷ nhục (sỷ: hổ thẹn); quốc sỹ, sỹ diện, sỹ khí, kẻ sỹ, sỹ phu, sỹ số, sỹ tử (sỹ: trí thức, học trò); sỹ quan, tướng sỹ, sỹ tốt, tử sỹ (sỹ: lính).

T-:ti (vú), ti hí, (hoa) ti gôn, ti-tan, ti toe, đinh ti, ti trôn, (bé) ti ti, (khóc) ti tỉ, ti tiện*, (uống) tì tì, tì vết, tì tay, (liền) tù tì, tí toáy, tí tách, tí teo, tí ti, tỉ (số đếm), tỉ mỉ, tỉ tê, bạc tỉ, tĩ (hậu môn loài chim), tị nạnh ; ty (sở ngày trước), công ty (ty: quản lý), trúc ty (ty: tơ); tự ty (ty: thấp hèn); tỳ vị (tỳ: lá lách), tỳ bà (một loại đàn), nô tỳ, tỳ thiếp (tỳ: đầy tớ), tỳ tướng (tỳ: nhỏ hơn; tỳ tướng: phó tướng), tỳ vị (tỳ: lá lách); tỷ giá, tỷ lệ, tỷ lệ thức, tỷ lệ xích, tỷ số, tỷ thí, (phương pháp) tỷ dụ (tỷ: so sánh); tỷ dụ, tỷ như (tỷ: ví dụ); ngọc tỷ (quả ấn); tý (tên 1 chi trong 12 chi/ chỉ năm), tỵ nạn, tỵ địa (tỵ: lánh, bỏ); tỵ (tên 1 chi trong 12 chi/ chỉ năm)

Ghi chú:

w Các từ gốc Ấn Âu được viết ihay ytuỳ theo nguyên ngữ.

w Các hình thức Hán Việt không có là: hỳ, lỳ, lỷ, lỹ, mỷ, mý, sỳ, sý, sỵ, tỹ. Các hình thức thuần Việt không có là: kỉ, lỉ, mĩ, sí, sị. Các hình thức thuần Việt ít gặp là: kí (biến âm của cấy - cốc vào đầu), kị (biến âm của trong kì cọ); lĩ (lũ lĩ), mỉ (tỉ mỉ).

w Một số từ ngoại lệ (đánh dấu sao), gồm:
– Những từ Hán Việt có ngữ âm như từ láy nên người Việt đã cảm thức nó như từ láy (nhiều tác giả gọi các từ này là từ láy Hán Việt), chúng tôi coi là từ thuần Việt: chi li (chi: nhánh; li: tách ra); lâm li (lâm: nước nhỏ giọt; li: nước thấm vào); ti tiện (ti: thấp hèn; tiện: hèn). Tương tự còn có hậu hĩ, mụ mị (một yếu tố còn cảm nhận được nghĩa). Riêng mỹ miều thì mỹ vẫn rõ nghĩa gốc nên xếp vào từ Hán Việt.
– Những từ mượn tiếng Hán hiện đại, chúng khác hẳn từ Hán Việt, nên coi như từ gốc Ấn Âu: mì chính. Kí ninh tuy mượn âm Hán Việt nhưng gốc Ấn Âu (quinin), nên tạm coi là mượn Ấn Âu.

w Trường hợp (kĩ càng) và sỹ (kẻ sỹ), nhiều sách, kể cả sách viết trước 1980 (phân biệt i/y) viết ngược lại là kỹ, đó là hai trường hợp viết không chuẩn.

Kết hợp sự ghi nhớ và phần nào sự phân biệt thuần Việt/ Hán Việt, ta thấy việc viết phân biệt i/y hoàn toàn khả thi vì: số lượng từ thuần Việt ít, có đặc điểm cấu trúc và ngữ âm dễ nhận ra, còn từ Hán Việt chỉ do một số ít từ tố gốc tạo thành, tất cả khoảng 25 từ tố gốc (ở đây gộp cả các từ tố đồng âm khác nghĩa, miễn nó là từ tố Hán Việt, viết y).

Thay lời kết

Viết đến đây chúng tôi thấy cần phải nói lời xin lỗi, vì chỉ có hai chữ i/y mà nói khá dài, làm mất thì giờ của độc giả. Nhưng biết làm sao được, nếu không đặt trong hệ thống tiếng Việt – chữ Việt, sẽ không thể nào “bào chữa” cho những “bất hợp lý” của i/y, nhất là trong bối cảnh đang có sự lộn xộn, nhiều người muốn nhập i/y làm một không chỉ vì sự “hợp lý” mà chỉ vì tránh sự “rắc rối”. Với giới chuyên môn, nếu chúng tôi có làm mếch lòng các bậc trí giả thì cũng chỉ vì tình yêu tiếng Việt. Chúng tôi cảm thấy nếu nhất thể i sẽ là đánh mất một phần gia tài tiếng Việt của cha ông, cho nên chúng tôi đành nhọc lòng và chịu mất lòng nữa để bảo vệ cho cách viết phân biệt i ngắny dài.


[1] Xem Ngôn ngữ và đời sống số 6/2005, Xuất bản Việt Nam số 4/2010 và Tham luận tại Hội thảo Ngôn ngữ học toàn quốc tháng 4/2010.

[2] Một vài ví dụ: g/gh cùng ghi âm /g/, ng/ngh cùng ghi âm /ng/, thậm chí 3 chữ cái c/k/q cùng ghi âm /k/. Âm đệm /u/ vừa viết là u vừa viết là o (huy hoàng), /a/ă/ đều viết a: sao/sau. Nguyên âm đôi /iê/ viết iê/ia: chiến/chia, /ươ/ viết ươ/ưa (thương/thưa),v.v.. Tiếng Bắc không phân biệt /tr/ch, s/x, d/gi/r/. Từ Thanh Hoá trở vào cho hết miền Nam không phân biệt hỏi/ ngã. Từ phía nam Quảng Bình trở vào bắt đầu không biệt âm cuối /c/t, n/ng/ và từ Thừa Thiên – Huế trở vào thì hoàn toàn mất sự phân biệt trên. Riêng Nam Bộ còn không phân biệt các phụ âm đầu /v/d/, không phân biệt /g/h/k/ khi có âm đệm (huế ® guế; quang ® goang), không phân biệt âm chính /i/iê/ (tim/tiêm), đánh mất âm đệm /u/ khi đi với các nguyên âm /ê, i/, trừ khi đi với /g/h/k/ (tuệ ® tệ; thuý ® thí), /ă ®a/ (cháu ® cháo, tay ® tai). Có những tiếng không một vùng nào phát âm “đúng”. Ví dụ sẵn, Bắc Bộ đọc xẵn; Thanh Hoá – Quảng Bình: sẳn/sặn; Huế trở vào: sặng/sẳng/xẳng.

[3] Ví dụ trong tiếng Anh, /e/ khi đứng cuối từ, ngoại trừ “the”, không được phát âm: bite /bait/, distance /'distəns/, line /lain/. Một âm ghi bằng nhiều chữ, và một chữ ghi cho nhiều âm cũng là hiện tượng phổ biến.

[4] Cao Xuân Hạo, Tiếng Việt, văn Việt, người Việt, NXB Trẻ, 2001.

[5] Xem Về bản dự thảo Quy định cách viết cách đọc tên riêng nước ngoài trong các văn bản quản lý nhà nước, Ngôn ngữ và đời sống số 6/2006.

[6] Có người đã thử viết sau khi chữ QN được cải tiến “hợp lý” như sau: Ôi! Cuốc gia tŭiệt vời, cuê hương iêu dấu, sau những chặng đường khúc khŭỉu của lịch sử, sau những loăi hoăi trong đêm hôm khŭia khoắt tưởng chừng tŭiệt vọng, ngằi năi dân ta đã có được một thứ chữ ŭiên bác, không tầi huầi cuê mùa như trước.

[7] Có không ít người đề nghị dùng hệ thống chính tả hiện tại để “phiên” thành hệ thống chính âm, và ta có một hệ thống chính âm “hoàn hảo” 1 đối 1 với chính tả, nhưng than ôi, đó là một thứ chính âm nhân tạo, siêu thực, và nếu đạt được sẽ là một đại hoạ cho tiếng Việt.

[8] Lâu nay nhiều người vẫn coi luyện chính âm là điều kiện tiên quyết cho chính tả, nhưng đã vấp phải một thực tế: không một phương ngữ nào có đủ khả năng để chọn chuẩn chính âm, mà dẫu có một vùng nào đó “chuẩn” thì cũng không cưỡng ép vùng khác nói theo được. Theo Nguyễn Đức Dương, dạy chính tả bằng con đường chính âm “là biện pháp thần tình nhất để viết sai chính tả một cách chắc chắn” (Linh hồn tiếng Việt, NXB Trẻ, 2003).

[9] Cao Xuân Hạo, Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, NXB Khoa học Xã hội, 2006.

(Mùa thu 2010)

Tuesday, November 20, 2012

救急車

  • 止まってお待ち下さい。: Please stop and wait. [とまっておまちください。]
  • 右へ曲がります。ご注意ください。: Turning right. Please watch out. [みぎへまがります。ごちゅういください。]
  • 赤信号を通過します。: We’re going through the red light. [あかしんごうをつうかします。]
  • 反対車線を通行します。: We’re passing through the lane for traffic going in the opposite direction. [はんたいしゃせんをつうこうします。]
  • 緊急車両が接近しますので、ゆっくりと左へ寄ってください。: An emergency vehicle is approaching, so please make your way carefully to the left. [きんきゅうしゃりょうがせっきんしますので、ゆっくりとみぎへよってください。]
  • 交差点に進入します。: We’re entering the intersection. [こうさてんにしんにゅうします。]
  • 歩行者の方、少しお待ちください。: Pedestrians, please wait. [ほこうしゃのかた、すこしおまちください。]
  • 救急車: ambulance [ きゅうきゅうしゃ]
  • 緊急車両 = 緊急自動車: emergency vehicle, urgent vehicle [きんきゅうしゃりょう = きんきゅうじどうしゃ]
 Ref:
- http://alicegordenker.wordpress.com/2012/11/20/understanding-your-ambulance/
- http://www.japantimes.co.jp/text/ek20121120wh.html

Tuesday, October 09, 2012

Arafo

アラフォー = around 40s (especially, women?) --> アラサー = around 30 (women)

代行 (daiko): taxi service for drunks

メリーぼっち: メリークリスマス + ひとりぼっち

  • 73% male, 57% female (NHK, rough numbers)
  • single-serving cake

大掃除 (おおそうじ): spring clean

Wednesday, August 08, 2012

Một số lỗi sinh viên Nhật thường hay mắc phải khi viết tiếng Việt

Một số lỗi sinh viên Nhật thường hay mắc phải khi viết tiếng Việt     

NGUYỄN MỸ CHÂU, YAMAMOTO RIE, SHIMIZU MASAAKI, TOMITA KENJI
ĐH Osaka, Nhật Bản

Trên cơ sở phân tích và lý giải nguyên nhân các lỗi sai trong 107 bài viết của sinh viên năm thứ ba và năm thứ tư Bộ môn tiếng Việt - Khoa Ngoại ngữ trường đại học Osaka, chúng tôi muốn trình bày phương pháp khắc phục các lỗi sai này nhằm giúp sinh viên tránh được lỗi khi viết để có bài viết bằng tiếng Việt tốt hơn. Chúng tôi tập trung vào hai phạm vi chính: lỗi từ vựng và lỗi cấu trúc - biểu hiện.

Từ khoá: lỗi sai, lỗi từ vựng, lỗi cấu trúc biểu hiện

Phần mở đầu

Ngoài các khó khăn trong việc luyện tập phát âm tiếng Việt sao cho giống người Việt Nam thì chắc chắn là học viên người nước ngoài cũng có nhiều lúc khó tránh được lỗi sai khi nói và viết tiếng Việt. Chúng tôi nhận thấy rằng sinh viên người Nhật của Bộ môn tiếng Việt thường hay mắc phải một số lỗi cơ bản giống nhau.

Vì sao các lỗi sai cơ bản lại giống nhau? Chúng tôi nghĩ rằng có một sự đồng nhất nào đó trong tư duy ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ của các sinh viên, đó là tiếng Nhật. Vì sao có các lỗi sai? Chúng tôi nghĩ rằng có sự khác nhau trong vốn từ vựng khi sử dụng, cách biểu hiện ngôn ngữ do tư duy và văn hoá khác nhau giữa Việt Nam và Nhật. Nếu người học được hướng dẫn để tránh những lỗi này thì chúng tôi hy vọng rằng họ có thể sử dụng tiếng Việt tốt hơn.

Phần nội dung

Tiếng Việt thuộc ngôn ngữ đơn lập và không biến hình. Tiếng Nhật thuộc ngôn ngữ chắp dính (agglutinative) và biến hình. Tiếng Việt có cấu trúc câu cơ bản là SVO, trong khi đó tiếng Nhật có cấu trúc câu cơ bản là SOV. Nhìn chung thì sự khác biệt về tính chất của hai ngôn ngữ này không mang lại nhiều khó khăn quá to lớn cho người học của hai nước nhưng sự khác biệt về cấu trúc câu và cách tư duy biểu hiện là một trong những nguyên nhân gây ra khó khăn cho người Nhật học tiếng Việt.

Tiếng Việt và tiếng Nhật cùng khối ngôn ngữ thuộc khu vực văn hoá chữ Hán. Trong hệ thống từ vựng tiếng Việt có khoảng hơn 70% từ vựng là những từ gốc Hán hoặc gốc chữ Hán, và tiếng Nhật cũng có một số từ gốc Hán gần tương đương như thế [7]. Như vậy, người Nhật Bản gặp thuận lợi khi học tiếng Việt, đặc biệt là khi gặp nhiều từ Hán-Việt và Hán-Nhật giống nhau cả về hình thức lẫn ý nghĩa. Ví dụ như:

Quan tâm     関心   カンシン       KANSHIN

Chính trị       政治   セイジ           SEIJI

Văn hoá       文化   ブンカ           BUNKA

Thế giới       世界   セカイ           SEKAI

Tuy nhiên, sự thuận lợi này đồng thời cũng là một khó khăn đối với người Nhật vì có những trường hợp nêu sử dụng nguyên nghĩa Hán-Việt hoặc Hán-Nhật thì không phù hợp do sắc thái nghĩa khác nhau hoặc ý nghĩa khác hẳn nhau và đôi khi gây buồn cười cho người đọc, người nghe. Vấn đề ở chỗ là đã từ lâu một số lớn từ vựng tiếng Hán-Việt trở nên cổ, không còn được sử dụng trong tiếng Việt hàng ngày nữa nhưng vẫn xuất hiện trong các từ điển Việt-Nhật, Nhật-Việt. Do đó có thể nói từ Hán-Việt hoặc Hán-Nhật là một sự thuận lợi ngọt ngào nhưng nguy hiểm cho học viên người Nhật. Ví dụ như người Nhật viết: |thanh xuân thời đại (青春時代)| thì đối với người Việt là cổ lỗ khó hiểu, phải viết là |thời thanh xuân| hoặc là |thời tuổi trẻ| thì dễ hiểu hơn. Ví dụ như từ |điều tra (調査)| của tiếng Nhật có nghĩa là “điều tra, thám hiểm, thăm dò [4], nghiên cứu, khảo sát” [5], nhưng trong tiếng Việt từ |điều tra| có nghĩa là “tìm hiểu, xét hỏi để biết rõ sự thật” [2][3][5], như trong cụm từ {điều tra tội phạm}{điều tra hình sự},, v.v... Rõ ràng là sắc thái nghĩa của các từ nói trên đã đổi khác. Hoặc nếu người Nhật viết là: |giao thiệp giá tiền (値段の交渉をする)| ý nói là “thương lượng” hoặc “cò kè trả giá tiền” thì đối với người Việt là dùng sai từ, vì trong tiếng Việt ngày nay |giao thiệp|[1]có nghĩa là “giao tiếp quan hệ xã hội với người nào đó” [2][3][6]. Tóm lại, việc lựa chọn đúng từ đúng ngữ cảnh và sắc thái là rất quan trọngữ

Bài viết này không đề cập đến chi tiết lỗi sai từ vựng về mặt chính tả như |ê| viết sai thành |e|, |ô| viết sai thành |o|, |-n| viết sai thành |-ng| như |mềm| thành |mèn|, |bóng đá| thành |bống đá|, |Hàn quốc| thành |Hàng quốc|... Qua quá trình tập trung dữ liệu từ các bài viết của người học là người Nhật Bản, trong khuôn kho bài viết này chúng tôi tập trung vào việc phân loại và phân tích các lỗi sai theo hai hướng: lỗi từ vựng và lỗi cấu trúc - biểu hiện.

Trong lỗi từ vựng (Nhóm 1), chúng tôi lại chia ra thành nhiều nhóm nhỏ hơn theo từng nhóm từ loại mà học viên hay bị sai như: lỗi động từ, lỗi danh từ - tính từ - trạng từ, lỗi từ nối liên từ, lỗi đại từ chỉ định - tính từ chỉ định, lỗi loại từ...

Trong lỗi cấu trúc - biểu hiện (Nhóm 2) chúng tôi chia ra nhiều nhóm nhỏ dựa theo tính chất của phạm vi sai như:

- Lỗi sai do nhẳn thức giống nhau về một sự vat nhưng từ ngữ trong tư duy khác nhau nên biểu hiện khác nhau. Do ảnh hưởng từ vựng tiếng mẹ đẻ là tiếng Nhật (động từ, danh từ bị ảnh hưởng bởi tiếng Hán, biểu hiện sai do chọn từ sai, biểu hiện sai do dùng từ dư thừa…)

- Lỗi sai do ảnh hưởng cấu trúc câu tiếng Nhật. Do sự linh hoạt uyển chuyển hơn của tiếng Việt mà người học chưa được chỉ cho biêt là phải làm như thế nào, cho nên cần phải được hướng dẫn trong thực hành viết. Sau đây là phân nhận xét và phân tích các nhóm lỗi.

1. Lỗi từ vựng

1.1. Lỗi động từ

Trong nhóm Lỗi từ vựng chúng tôi nhận thấy tỉ lệ dùng sai động từ là cao nhất. Có nhiều trường hợp, để diễn tả một hành động A thì động từ tiếng Việt có số lượng nhiều hơn, diễn đạt cụ thể phong phú hơn bằng các động từ A1, A2, A3, v.v...Trong khi đó, tiếng Nhật do ảnh hưởng của hiện tượng đa nghĩa mà một động từ có thể dùng với nhiều nghĩa trong nhiều trường hợp khác nhau. Trong bài viết với đề tài “Hướng dẫn cách thực hiện một món ăn”, người học đã viết:

Ví dụ 1: Rang thịt cho chín, rồi rang cả rau với thịt.

Thay vì phải viết là: Xào thịt cho chín, rồi xào cả rau với thịt.

Lý do là động từ |YAKU (焼く)| trong tiếng Nhật có nghĩa là “đốt”, “cháy”, “nung”, “nướng” [1][5], “nướng”, “rang”, “quay”, “chiên”, “tráng” [4]. Nhưng tiếng Việt có số lượng động từ nhiều hơn để phân biệt diễn tả hành động và trạng thái chế biến thức ăn: dùng dầu ăn thì có động từ |rán|, |chiên|, |xào|; không dùng dầu ăn thì có động từ |nướng|, |rang|, |quay|, |lùi| [3][6]; mặc dù vậy người học có xu hướng tra từ điển và đã chọn nhanh lấy một động từ trong số các từ có nghĩa tương đương với |YAKU (焼く)|.

Ví dụ 2: Sơn muối rất to vào dưa khổ, sau đó bỏ 5 phút

Thay vì phải viết là: Xát muối hột vào khổ qua, sau đó để yên 5 phút.

Lý do là động từ |NURU (塗る)| trong tiếng Nhật có nghĩa là “sơn”, “đánh”, “trát”, “bôi”, “quét” [5]; và động từ |HOTTE OKU (ほって置く)| có nghĩa là “bỏ qua một bên”. Trong khi đó đối với từng tác động khác nhau lên đối tượng khác nhau thì trong tiếng Việt có các động từ khác nhau như |sơn|, |phết|, |tô|, |bôi|, |xát|, |chà|, |đánh| [3]...

Ví dụ 3: ...giúp truyền đạt lời nói tình yêu tới một cô gái...

Thay vì phải viết là: ...giúp chuyển lời tỏ tình tới một cô gái...

Ví dụ 3 minh hoạ cho việc dùng từ gốc Hán |truyền đạt (伝達)| bị sai lệch ngữ cảnh do trong tiếng Việt động từ |truyền đạt| có nghĩa “phổ biến cho người khác nắm được để làm cho đúng” [3], “làm cho người khác nắm được để chấp hành” [2], và thường được dùng với sắc thái trịnh trọng như trong cụm từ {truyền đạt mệnh lệnh} {truyền đạt kiến thức}; do đó nếu dùng từ |chuyển| thì thích hợp hơn. Ngoài ra, |lời nói tình yêu (愛の言葉)| trong ví dụ 3 cũng cho thấy sự diễn đạt linh hoạt của tiếng Việt mà người học có thể chưa nắm được và khi viết sang tiếng Việt chúng ta có thể dùng từ đơn giản hơn, chính xác mà lại tinh tế hơn đó là cụm từ |lời tỏ tình|.

Một trong các nguyên nhân dùng từ sai chúng ta có thể nghĩ đến đó là các từ điển Việt-Nhật mà người học đang sử dụng hiện tại còn sơ sài, thiếu nhiều mục từ, và mỗi mục từ lại cho ít nghĩa hơn số lượng nghĩa trong thực tế của một từ tiếng Việt. Phần lớn các từ điển Nhật-Việt và Việt-Nhật này không có ví dụ đầy đủ cho lắm và cũng không có minh hoạ sắc thái cách dùng từ mà thường chỉ là từ đối từ. Một số người học sử dụng từ điển Nhật-Anh hoặc Anh-Nhật thì ít bị sai hơn vì chất lượng các từ điển này tốt hơn có độ tin cậy cao hơn. Nhưng dù sao, cách dùng từ ngữ theo kieu bắc cầu chuyền như thế này cũng không khắc phục được hoàn toàn tình trạng dùng sai từ.

1.2. Lỗi danh từ - tính từ - trạng từ

Do ảnh hưởng cách dùng từ vựng trong tiếng mẹ đẻ là tiếng Nhật nên có sự dùng nhầm lẫn. Sai nhiều nhất là do ảnh hưởng của từ gốc Hán-Nhật mặc dù từ Hán-Việt tương ứng của từ đó trong tiếng Việt ngày nay không còn tương đương nghĩa nữa. Người học cũng hay dựa vào từ điển song ngữ Nhật-Việt để diễn đạt suy nghĩ của mình mà không lưu ý ngữ cảnh, trường hợp nào sử dụng từ này và trường hợp nào không sử dụng từ này. Vì vậy có nhiều từ xuất hiện khi viết tiếng Việt mà cách dùng hoàn toàn không phù hợp.

Ví dụ 4: Từ thế kỷ 19 bắt đầu nghiên cứu hoạt bát...

Thay vì phải viết là: Từ thế kỷ 19 bắt đầu nghiên cứu mạnh mẽ...

Ví dụ 5: Cho nên các hộ có liên quan mạnh...

Thay vì phải viết là: Cho nên các hộ có liên quan mật thiết...

Trạng từ |hoạt bát (活発)| của ví dụ 4 trong tiếng Nhật có nghĩa là “hoạt bát”, “sôi nổi”, “hăng hái” [1][5]; nhưng trong tiếng Việt nếu dùng từ này để diễn tả mức độ thì buồn cười vì |hoạt bát| trong tiếng Việt chỉ dùng để diễn tả tính cách lanh lợi trong nói năng ứng đáp, nhanh nhẹn trong cử chỉ động tác [2][3], ví dụ như {anh ấy là người ăn nói rất hoạt bát}. Ngược lại, tính từ |TSUYOI (強い)| của ví dụ 5 trong tiếng Nhật có nghĩa là “mạnh mẽ”, “hùng mạnh”, “mãnh liệt”, “một cách lâu bền” [5]; nhưng trong tiếng Việt nếu dùng từ này để biểu hiện tính chất của mối liên quan thì rõ ràng đây là cách dùng từ của người nước ngoài vì “mạnh” trong tiếng Việt được dùng để diễn tả “sự vượt trội hơn về tiềm lực, khả năng” [3], “có cường đo mức độ lớn” [2].

1.3. Lỗi từ nối liên từ [2]

Đây là lỗi sai có thể nhìn thấy rõ ngay. Lỗi này vẫn thường hay xảy ra khi viết. Do ảnh hưởng của nghĩa sử dụng của từ vựng trong tiếng mẹ đẻ là tiếng Nhật, người học thường hay dùng lẫn lộn. Để diễn đạt ý “Cái vừa nói đến là chính, còn có những cái khác nữa” thì người học lại hay viết |Hơn nữa (SONOHOKA そのほか)|, |Thêm nữa (SARANI さらに)|, |Còn nữa (MATA また)|, |Nữa là (SARANI さらに)|... thay vì dùng đúng một từ nối liên từ |Ngoài ra (SORENI それに)|, vì nguyên nhân là các từ nêu trên trong tiếng Nhật có thể có chung một nghĩa là “ngoài ra” (ví dụ 6).

Ví dụ 6: Nữa là một lý luận rất quan trọng là...

Thay vì phải viết là: Ngoài ra, một lý luận rất quan trọng là...

Để nêu nguyên nhân hay lý do thì người học hay viết |Thì (SOSHITE そして)|, |Thế thì (YOTTE よって)|, |Như này (KONOYOUNI このように)| thay vì dùng đúng một từ nối liên từ |Do đó (DAKARA だから)| vì các từ nêu trên trong tiếng Nhật có thể có chung một nghĩa là “do đó” (ví dụ 7).

Ví dụ 7: Như này từ ca dao tục ngữ chúng ta thấy đặc trưng tính dân tộc của người Việt Nam...

Thay vì phải viết là: Do đó, từ ca dao tục ngữ chúng ta thấy đặc trưng tính dân tộc của người Việt Nam...

Điểm này cũng cho chúng tôi thấy rằng về phương diện từ nối liên từ thì trong tiếng Nhật có nhiều từ biểu hiện gần như cùng một ý nghĩa (hiện tượng trường nghĩa, đồng nghĩa) hơn là tiếng Việt, và các từ này được dùng linh hoạt và dễ kết cấu hơn là tiếng Việt. Nhưng vấn đề cũng phát sinh từ đây vì trong tiếng Việt không châp nhận các từ gần nghĩa như thế. Nêu người đọc là người Việt và biêt tiếng Nhật thì có thể dựa vào nội dung mà đoán ra ý nghĩa của chữ bị dùng sai, nhưng những từ dùng sai như thế làm cho câu văn trở nên rất “ngoại quốc”!

1.4. Lỗi đại từ chỉ định - tính từ chỉ định

Cũng do ảnh hưởng của nghĩa sử dụng của từ vựng trong tiếng mẹ đẻ là tiếng Nhật, người học thường hay dùng đại từ chỉ định và tính từ chỉ định một cách tuỳ tiện khi viết tiếng Việt.

Ví dụ 8: Tôi nghĩ rằng ở Nhật cũng có cách suy nghĩ như này.

Thay vì phải viết là: Tôi nghĩ rằng ở Nhật cũng có cách suy nghĩ như thế này.

Lý do có lẽ là vì ảnh hưởng nghĩa của từ |KONO (この)| trong tiếng Nhật có nghĩa là “này” và |YOUNA (ような)| có nghĩa là “như”, “giống như” trong câu {KONO YOUNA KANGAE WA NIHON NI MO ARU TO OMOIMASU (このような考えは日本にもあると思います)}.

Ví dụ 9: Chia đó ra 4 phần. Sau đó làm đó hình tròn...

Thay vì phải viết là: Chia khoai đó ra làm 4 phần. Sau đó làm cho 4 phần khoai đó có hình tròn...

Ví dụ 10: Bao phủ đó các bột mì, trứng…

Thay vì phải viết là: Bao phủ các phần khoai đó bằng bột mì, trứng..

Khác với người Nhật, người Việt Nam thường nêu rõ danh từ cụ thể và dùng kèm với tính từ chỉ định như |này|, |đó|, |kia| khi viết và nói, hoặc lặp lại trực tiếp tên gọi của vật đối tượng đó nếu biết vật đối tượng và ngữ cảnh cụ thể (ví dụ 9 và 10 trong ngữ cảnh “hướng dẫn thực hiện món croquette” thì vật đối tượng là “khoai”). Ngoài ra, 282 người học cần được hướng dẫn luyện tập sử dụng một số động từ thông dụng một cách thuần thục hơn. Ví dụ như động từ |chia| thì hay được dùng kết hợp trong các ngữ động từ như |chia... làm| hoặc |chia... thành|, động từ |làm| thì có thể được viết là |làm cho| (ví dụ 9); đối với động từ |bao phủ| (ví dụ 10) thì phải thêm từ |bằng| để diễn tả ý phương tiện.

1.5 Lỗi dùng từ chỉ thời gian

Các ví dụ sau đây minh hoạ cho việc dùng sai từ chỉ thời gian, phần lớn là do người học bị ảnh hưởng bởi tư duy từ vựng tiếng Nhật (kể cả có và không có sự ảnh hưởng của chữ Hán).

Ví dụ 11: {Đồng niên tháng 7}

Thay vì phải viết là {Tháng 7 cùng năm đó}

Ví dụ 12: {Trước sau thế kỷ 16 ở Hội An xây dựng khu phố người Nhật...}

Thay vì phải viết là: {Vào khoảng thế kỷ 16 ở Hội An người ta xây dựng khu phố người Nhật...}

Ví dụ 13: {Bây giờ số lượng nhà trồng thuốc nam ngày càng giảm...}

Thay vì phải viết là: {Hiện nay số lượng nhà trồng thuốc nam ngày càng giảm...}

Trong ví dụ 11, từ |Đồng niên| bị ảnh hưởng bởi từ gốc Hán |DOUNEN (同年)| nên người học đã dùng nguyên nghĩa gốc Hán vào trong câu làm cho từ ngữ câu văn có vẻ “hơi cổ” khi biểu hiện sang tiếng Việt. Hoặc trong ví dụ 12, từ |Trước sau| tương đương từ |ZENGO (前後)| nên người học đã dùng nguyên nghĩa Nhật vào trong câu văn. Ngoài ra, đôi lúc người học không biêt là có những trường hợp phải dùng từ khác nhau phân biệt trong văn viết và văn nói (ví dụ 13).

1.6. Lỗi giới từ

Người học dùng giới từ sai do ảnh hưởng ngữ pháp và tư duy biểu hiện của tiếng Nhật. Thay vì viết {bơi ngoài biển} thì họ viết {bơi ở biển} vì trợ từ |DE (で)| trong tiếng Nhật có nhiều nghĩa khác nhau như “ở”, “trong”; và trợ từ |NI (に)| có nhiều nghĩa khác nhau như “ở” “về” “đến” “cho” “trong”... khi kết hợp với động từ hoặc với các ngữ khác nhau nhưng lại không đòi hỏi sự phân định về không gian. Trong khi đó trong tiếng Việt có sự phân định về không gian “trong” “ngoài” “xa” “gần” “trên” “dưới” hêt sức đặc thù như {trong Nam}{ngoài Bắc}{trong nhà}{ngoài sân}{trên rừng} {dưới biển} và phân định về từ sử dụng trong các ngữ chỉ thời gian như “khi” trong {khi học bài}, “vào” trong {vào tháng 5}, v.v... Và “biển” được coi là xa, là ở phía ngoài so với đất liền nên phải viết là {bơi ngoài biển}.

Các ví dụ trong bảng dưới đây cho thấy từ Nhật tương ứng đã dùng (suy đoán ngược lại sang tiếng Nhật của từ tiếng Việt). Trong bài viết này chúng tôi chỉ nêu một số ví dụ có liên quan trợ từ |NI (に)| của tiếng Nhật. Một điểm dễ thấy là từ |NI (に) | được dùng như một trợ từ trong tiếng Nhật, còn từ |NI (に)| được xử lý như một giới từ trong tiếng Việt. Sự lệch pha về từ loại như thế này vẫn có thể xảy ra giữa các ngôn 283 ngữ. Giáo viên phải giải thích từng ngữ cảnh và khuyên người học nên học thuộc lòng là cách tốt nhất để tránh những lỗi do lệch pha về từ loại như thế này gây ra. Một số ví dụ dùng sai giới từ khi viết (liên quan với trợ từ |NI (に)|)

 

Ví dụ

Từ Nhật tương ứng đã dùng

Tiếng Việt sai

Tiếng Việt đúng

14

NI (に) EIKYOUSURU (影響する)

...ảnh hưởng cho cơ quan tạng khác...

...ảnh hưởng đến cơ quan tạng khác...

15

NI TSUITE (について)

...chủ yếu là quan niệm đến hiện tượng tự nhiên...

...chủ yếu là quan niệm về hiện tượng tự nhiên...

16

NITOTTE (にとって)

“Con trâu là đầu cơ nghiệp” vì con trâu không thể thiếu cho người dân nền văn minh lúa nước

“Con trâu là đầu cơ nghiệp” vì con trâu không thể thiếu đối với người dân nền văn minh lúa nước

17

NI (に)

 Ở trong thời trung học

 Vào thời trung học

 

1.7. Lỗi dùng loại từ

Trong tiếng Việt có loại từ: |cái|, |con|, |cây|, |quyển|, |bức|, v.v... Nếu người học chưa nắm vững thì dễ sai. Có sự phân biệt rõ rệt |quả| dùng cho sự kết hạt ra trái trên cây: “bộ phận của hoa do bầu nhuỵ phát triển mà thành” [3][6] như |quả cam|, |quả táo|, còn |củ| dùng cho sự kết hạt ra trái dưới đất: “phần thân hay rễ cây phát triển phình và chứa chất dự trữ” [3], nằm ở dưới đất hoặc sát đất” [2] như |củ khoai|, |củ hành|. Ngoài ra, |múi| là từ dùng để chỉ “phần của quả, có màng bọc riêng, chứa hạt ở trong” [3], và |tép| là “sợi mọng nước ở trong múi một số quả hoặc nhánh nhỏ” [3][6], v.v... Nhưng trong tiếng Nhật có thể dùng từ |KO (個)| để biểu thị và để đếm cho cả hạt lẫn trái cây lẫn các đồ vật có kích thước nhỏ. Do đó, không ít người học đã viết {3 quả khoai} {1 cái cà rôt} {2 hạt tỏi} thay vì phải viết là {3 củ khoai} {1 củ cà rôt} {2 tép tỏi}. Hoặc là cùng một từ chỉ khái niệm “người” nhưng người học lại dùng một cách không đúng cho loại từ |con| làm cho nghĩa của từ trở nên to tát, nghĩa bị sai đi (ví dụ 18).

Ví dụ 18: {nhiều con người Nhật Bản rất thích cơm cà-ri}

Thay vì phải viết là {nhiều người Nhật Bản rất thích cơm cà-ri}

Lý do có thể là vì trong tiếng Nhật có ít nhất hai từ cùng nghĩa chỉ “người” hoặc “con người” và được sử dụng thay thế chuyển đổi cho nhau tương đối tự do đó là từ |HITO (人)| và |NINGEN (人間)|. Ví dụ như trong |BYOUNIN (病): người bệnh|, |UCHUJIN (宇宙): người vũ trụ|, |NINGENSEI (人間性): bản tính con người| và |SHIGOTONINGEN (仕事人間): người chỉ biêt công việc| [3].

Hoặc thói quen dùng từ |~RUI (~類)| để kết hợp với danh từ nhằm chỉ nhiều thứ thuộc cùng một phạm trù một thuộc tính, ví dụ như |IRUI (衣類): y phục| hoặc |HONYUURUI (哺乳類): động vật có vú| hoặc |PURASUCHIKKURUI (プラスチック類): các vật có thuộc tính nhựa|. Do đó, người học thường hay viết {canh nấm và loại tảo biển} thay vì chỉ cần viết là {canh nâm và tảo biển}. Chúng tôi có một kinh nghiệm là khi dạy từ vựng nên dạy luôn cả loại từ đi với từ vựng đó và giáo viên cần phân tích cụ thể trường hợp sử dụng và không sử dụng loại từ.

2. Lỗi cấu trúc - biểu hiện

2.1. Lỗi sai do nhận thức giống nhau về một sự vat nhưng từ ngữ trong tư duy khác nhau nên biểu hiện khác nhau

Lỗi sai về biểu hiện rất đa dạng do mỗi người có một cách suy nghĩ. Có người học dùng từ tự chế ra vì từ này không tìm thấy trong từ điển. Trong ví dụ 19 dưới đây, từ |dưa khổ| không có trong từ điển tiếng Việt, nhưng tiếng Nhật có từ |NIGAURI (苦瓜): quả dưa đắng vì |URI (瓜)| là “quả dưa” và |NIGAI (苦い)| có nghĩa là “đắng” hoặc “đau khổ” [1][5], mà “đắng” tức là “khổ”??... cho nên chúng ta có thể tạm suy ra rằng |dưa khổ| là trái “khổ qua” của Việt Nam. Để thể hiện đúng nguyên văn mà người học đã viết và để đối chiêu, trong các ví dụ sau đây chúng tôi sẽ dịch sát nghĩa sang tiếng Nhật của phần tiếng Việt bị viết sai; mặc dù làm như thế có trường hợp sẽ không là tiếng Nhật đúng ngữ pháp hoặc đúng từ ngữ.

Ví dụ 19: cắt quả dưa khổ cho phần chia đôi cất dọn đồ bên trong dưa khổ.

{NIGAURI O HANBUN NI KITTE, NAKAMI O TORIDASU (苦瓜を半分に切って中身を取り出す)}

Ngoài vấn đề từ vựng ra, cách thể hiện như (1) và (2) đêu không đúng trong tiếng Việt, mà phải viết là

(1) {cắt khổ qua làm đôi} hoặc {cắt đôi khổ qua} hoặc {bổ đôi khổ qua}

(2) {làm sạch bên trong ruột khổ qua}

do đó câu viết lại là: {cắt khổ qua làm đôi làm sạch bên trong ruột khổ qua}

Ví dụ 20: Làm cho ấm trứng trên cái chảo và tráng trứng thành lớp dày...

{FURAIPAN NO NAKA DE TAMAGO O ATATAMETE ATSUKU YAKU (フライパンの中で卵をあたためて厚く焼く)}[4]

câu viết đúng là: {Làm nóng chảo tráng trứng thành lớp dày}

Lỗi sai về biểu hiện còn do ảnh hưởng từ vựng tiếng mẹ đẻ là tiếng Nhật. Như đã trình bày ở phần lỗi từ vựng, các biểu hiện hành động có liên quan phương pháp phương tiện rất hay bị mắc lỗi sai khi viết sang tiếng Việt. Ví dụ như trong tiếng Nhật, trợ từ |DE (で)| được dùng để chỉ phương tiện “bằng” vật gì và trạng từ |JUUBUNNI (十分に)| được dùng để nói lên ý “đầy đủ” “hoàn toàn”, nhưng trong tiếng Việt không thể viết từ tương đương sát nghĩa như thế được mà phải linh động sử dụng động từ |dùng| (ví dụ 21), thêm giới từ |vào| và cụm từ {cho đủ chín} hoặc {cho đủ mềm} để cho câu ra vẻ tiếng Việt hơn (ví dụ 22).

Ví dụ 21: bằng muỗng ép chuối vào tô cho nhuyễn... (trong bài viết hướng dẫn làm bánh chuối)

{SUPUN DE BANANA O BOURU NI OSHITSUKETE TSUBUSU (スプーンバナナをボールに押し付けてつぶす)}

phải sửa lại là: {dùng muỗng ép chuối vào tô cho nhuyễn}

Ví dụ 22: thêm thịt và nướng đầy đủ... (trong bài viết hướng dẫn làm món xào dưa chuột)

{NIKU O KUWAETE JUUBUNNI YAKU (肉を加えて十分焼く)}

phải sửa lại là: {thêm thịt vào xào cho đủ chín/cho đủ mềm}

Rõ ràng là muốn diễn tả việc xào nấu mức độ “chín” hoặc “mềm” như thế nào thì phải biết sử dụng nhuần nhuyễn các biểu hiện {cho chín},{cho mềm}, dùng chung cho tất cả các đối tượng {trái chín}, {thịt chín}... trong khi đó nếu muốn viết như thế thì tiếng Nhật cần cả một cụm động từ {JUKUSURU MADE (熟するまで): đến lúc chín} đối với trái cây, phân biệt với {JUUBUNNI YAWARAKAKU NARU MADE NIKOMU (十分に柔らかくなるまで煮込む) hoặc {YOKU NIERU MADE (よく煮えるまで): cho chín/cho mềm} đối với các thức khác.

Ví dụ 23: xe buýt to có thể chuyển đa số người một lần...

{OOKINA BASU WA ICHIDO NI TASUU [5] NO HITO O HAKOBU KOTO GA DEKIRU (大きなバスは一度に多数の人を運ぶことができる)}

cần phải sửa lại là: {xe buýt to có thể chở nhiều người cùng một lúc...}

Ví dụ 24: con người ra trí tuệ cho nhau...

{NINGEN WA OTAGAINI CHIE O DASHIAU (人間はお互いに知恵出しあう)}

cần phải sửa lại là: {con người chia xẻ cho nhau các hiểu biết của mình...}

Trong ví dụ 23, sở dĩ người học viết {chuyển}, {đa số} và {một lần} là do tư duy bằng các từ và ngữ tiếng Nhật tương đương là {HAKOBU (運ぶ): chuyển}, {TASUU (多数): đa số} và {ICHIDO (一度): một lần}. Để cho câu có vẻ tiếng Việt hơn, giáo viên nên khuyên người học dùng từ thuần Việt như {nhiều}, {cùng một lúc}. Trong ví dụ 24, dùng động từ {chia xẻ} thì chính xác hơn là động từ {ra}, và ngữ thuần Việt {các hiểu biết của mình} mặc dù hơi dài nhưng dễ hiểu hơn là danh từ {trí tuệ} vừa cóý nghĩa to tát vừa không phù hợp.

2.2. Lỗi sai do ảnh hưởng cấu trúc câu tiếng Nhật

Một nguyên nhân khách quan là do sự linh hoạt uyển chuyển hơn của tiếng Việt mà người học chưa được chỉ cho biết là phải làm như thế nào, do đó cần phải được hướng dẫn trong thực hành viết. Ngoài ra, người học cần phải được lưu ý rằng câu trong tiếng Nhật không đòi hỏi chặt chẽ về chủ từ và túc từ như câu trong tiếng Việt, nên khi viết tiếng Việt cần phải linh động thêm vào cho đúng ngữ pháp (ví dụ 25) nhưng cũng phải biết linh động cắt bớt phần không cần thiết do ảnh hưởng của tư duy tiếng Nhật (ví dụ 26).

Ví dụ 25: Hai con chó rất tốt và anh ấy yêu thương.

{NIHIKI NO INU WA TOTEMO KASHIKOKUTE, KARE WA AISHITE IRU (二匹の犬はとても賢くて、彼は愛している)}

Câu này thiếu túc từ do đó phải sửa lại là: {Hai con chó rất tốt và anh ấy yêu thương chúng}

Ví dụ 26: Em khuyên là thái mỏng là ngon nhất... (trong bài viết hướng dẫn làm súp cà chua)

{USUKU KITTARA ICHIBAN OISHII TO OSUSUMESHIMASU (薄く切ったら一番おいしいとお勧めします)}

Câu này dư thừa cả một cụm chủ-v], do đó chỉ cân viết là: {thái mỏng là ngon nhất}

Trong ví dụ 27 dưới đây, do bị đặt sai vị trí trong câu mà {con cá nục} ngẫu nhiên biến thành chủ ngữ. Mặc dù người học dùng sai động từ {xức} và biểu hiện {chừa bỏ axít}, và ở đây không cần loại từ {con} nhưng chúng ta vẫn hiểu được “cá nục” là đối tượng bị tác động vào, bị làm rửa sạch, được chuẩn bị biến thành một món ăn để dọn lên bàn!

Ví dụ 27: Con cá nục đầu tiên chừa bỏ axít xức muối tiêu...

{AJI WA SAISHONI ACIDO O NOZOITE SHIOKOSHO O NURU (あじは最初に酸味を除いて塩胡椒をぬる)}[6]

câu đúng là: {Đầu tiên làm và rửa sạch cá nục sau đó ướp muôi tiêu...}

Do người học bị ảnh hưởng cách tư duy tiếng Nhật nên chưa phân biệt được khi nào sử dụng thể chủ động-bị động trong tiếng Việt (ví dụ 28, 29).

Ví dụ 28: Tại sao sự khác nhau như thế này bị xảy ra?

{NAZE KONOYOUNA CHIGAI GA OKOTTANOKA (なぜこのような違いが起こったのか)}

cần phải sửa lại câu ở thể chủ động là: {Tại sao sự khác nhau như thế này xảy ra?}

Ví dụ 29: Chiến tranh không hết lâu thì nhiều người mất đât và nông nghiệp phá hoại...

{SENSOU GA NAGABIKU TO OOKU NO HITO GA TOCHI O NAKUSHITE, OUGYOU GA HAKAISURU (戦争が長びくと多くの人が土地を無くして農業が破壊する)}

cần phải sửa lại câu ở thể bị động là: {Chiến tranh kéo dài thì nhiều người (bị) mất đất và nông nghiệp bị phá hoại...}

Ví dụ 28 là dùng sai thể bị động:{bị xảy ra}. Có lẽ khi học ngữ pháp, người học được giải thích rằng {bị} mang ý nghĩa là “xấu, không như ý muốn” nên đã suy luận và viết như thế. Ví dụ 29 là do vô ý mà dùng sai thể chủ động: {nông nghiệp phá hoại: NOUGYO GA HAKAISURU (農業が破壊する)} vì tiếng Nhật viết ở thể chủ động như thế cũng là sai. Trong tiếng Nhật cũng phải dùng thể bị động: {nông nghiệp bị phá hoại: NOUGYO GA HAKAISARERU (農業が破壊される)}. Ngoài ra, {NAGABIKU (長びく): kéo dài, lâu mãi không chấm dứt, lâu mãi không hết} là động từ được dùng quen thuộc trong tiếng Nhật, nhưng trong tiếng Việt không chấp nhận cách viết ngược {...không hết lâu} như trong ví dụ 29.

Trong ví dụ 30 dưới đây, với nguyên văn cách viết dùng sai thể chủ động của người học thì “tắc đường” làm cho “đường phố” trở nên “chật” chứ không phải do “đường phố chật vào giờ cao điểm” mà làm “tắc đường”!

Ví dụ 30: Tắc đường gây ra lý do như sau. Đường phố chật lắm. Khi cao điểm đường phố Hà Nội không thể chức năng được...

{JUUTAI WA TSUGI NO RIYUU DE HASSEISHITA. DOURO GA TOTEMO SEMAKU, RASSHU NO TOKI NADO HANOI NO DOURO WA MATTAKU KINOU SHITEINAI (渋滞は次の理由で発生した。道路がとても狭く、ラッシュのときなどハノイの道路はまったく機能してない)}

cần phải sửa lại câu ở thể bị động là: {Tắc đường bị gây ra bởi lý do như sau. Đường phố quá chật. Khi cao điểm đường phố Hà Nội không thể làm hết chức năng được...}

Tóm lại khi viết không thể chỉ chuyển nghĩa một cách máy móc 1 đối 1. Người học cần phải tuỳ theo ngữ cảnh mà chú ý chọn lựa từ tiếng Việt có nghĩa phù hợp nhất trong tất cả các nghĩa ghi trong từ điển và có lúc cần phải linh động trong dùng từ ngữ biểu hiện. Vì viết là dùng từ để thể hiện trên giấy. Vì hai ngôn ngữ khác nhau có thể có cách biểu hiện khác nhau cho cùng một ý tưởng. Ví dụ như động từ |FUKAMARU (深まる)| có nghĩa là “sâu thêm” “đi sâu vào” [1], “trở nên sâu” [4], và người Nhật hay nói {AKI GA FUKAMATTA (秋が深まった)}. Trong tiếng Việt nêu dịch sát nghĩa từ thì câu này có nghĩa là {mùa thu đã sâu thêm rồi}. Nhưng để Việt hoá hơn thì phải viết là {thu đã đậm rồi} [7] hoặc {mùa thu đã nhiều rồi} hoặc văn chương hơn là {đã thật vào thu rồi}. Tuy nhiên với câu văn chương này {đã thật vào thu rồi} thì trong tiếng Nhật lại là một biểu hiện khác nữa {AKI HONBAN DA (秋本番だ)}.

Nếu được chỉ ra cụ thể các điểm sai, và được hướng dẫn để khắc phục lỗi sai thì bài viết của người học sẽ tốt hơn. Chúng tôi quan niệm như thế này và soạn bài giảng dựa vào tư lieu sống là các bài viết nguyên tác (còn nguyên lỗi sai chưa sửa của sinh viên năm trước). Chúng tôi chọn lấy bài có tiêu điểm muốn giảng, photocopy và phát cho sinh viên cùng đọc và tìm chỗ sai, và cùng sửa ngay tại lớp.

Một tiết học gồm 90 phút. Thông thường, chúng tôi bắt đầu tiết học môn viết bằng việc trình bày ví dụ một số lỗi sai của người học. Giáo viên dùng memo (thẻ ghi chú) theo từng đề mục sai như đã trình bày sơ lược ở phần trên (sai từ vựng hoặc sai biểu hiện - cấu trúc), viết trên bảng và yêu cầu sinh viên tìm chỗ sai, và cùng sửa. Ví dụ như lỗi sai về cách dùng đại từ chỉ định, tính từ chỉ định |này|, |đó|, |kia|... Để phân tích sâu hơn hoặc giảng lý thuyết kèm theo song song với nội dung đó và cho người học áp dụng làm ngay bài tập tại lớp, chúng tôi dùng hỗ trợ tài liệu ngữ pháp chọn lọc từ các nguồn sách ngữ pháp.

Giáo viên ra đề tài viết giới hạn trong 300 từ, bắt đầu từ những đề tài quen thuộc và đơn giản như “Kể về sinh hoạt một ngày của em” hoặc “Một quán ăn hoặc tiệm cà phê mà em thích nhất”... và sau đó dần dần tăng mức độ khó lên như “So sánh thời trung học và đại học của bạn” hoặc “Suy nghĩ về một cách sống lý tưởng”, v.v... Một đề tài thường được thực hiện trong ba tuần. Tuần thứ nhất, giáo viên ra đề, đọc bài mẫu do chính mình làm về đề tài đó. Tuần thứ hai, sinh viên nộp bài và giáo viên chấm bài, ghi chú, photo nguyên tác và photo các bài này sau khi đã được sửa xong. Tuần thứ ba, giáo viên dùng trực tiếp các bài viết này và trình bày lân lượt từng chỗ sai từ vựng, hoặc sai biểu hiện - cấu trúc,, v.v... ghi trên bảng cho sinh viên cùng đọc cùng cười và cùng sửa lại cho đúng hơn (tất nhiên tất cả các tài liệu như thế này đêu giấu tên của tác giả bài viết). Chúng tôi nhận thấy giai đoạn này rất quan trọng và có hiểu quả rõ rệt vì người học được tạo động lực bởi chính nội dung của mình đã viết ra, cảm thấy dễ hiểu, có thể lý giải được nội dung hơn nếu như so với việc phải đọc một bài mẫu xa lạ và hoàn chỉnh nào đó. Nhờ cách này mà người học có thái độ hợp tác tích cực trong giờ học hơn, có nhu cầu muốn đọc để hiểu nội dung bài viết của bạn mình cùng viết về một đề tài.

Nếu dùng từ điển thì hãy dùng từ điển tương đối tốt. Đa số các tiểu từ điển Việt-Nhật Nhật-Việt mà người học đang dùng chưa thật sự đạt chất lượng của một từ điển hoàn chỉnh. Như đã nói ở phần trên, có từ điển chỉ là một tập họp các từ đối từ, nghĩa là chỉ giải nghĩa sơ sài không có ví dụ minh hoạ cách dùng từ hoặc giải thích sắc thái nghĩa từ một cách đầy đủ. Thậm chí có quyển chỉ là một công trình góp nhat sao chép lạm dụng bản quyên của tác giả khác. Những từ điển như thế trong thực tế đã gây khó khăn không nhỏ cho người học tiếng Việt. Thấy rõ tình hình này chúng tôi đang cố gắng biên soạn một đại từ điển Việt-Nhật theo hướng đúng quy cách và hoàn chỉnh hơn [8]. Khi công trình này được hoàn tất, chúng tôi hy vọng là từ điển Việt-Nhật này sẽ góp phần hữu ích cho người học.

Phần kết luận

Chúng tôi đã trình bày các nhận xét và phân tích một số lỗi sai tập trung vào hai phạm vi chính: lỗi từ vựng và lỗi cấu trúc - biểu hiện của người học là người Nhật Bản khi viết tiếng Việt. Qua đó chúng tôi trình bày một số phương pháp khắc phục các lỗi sai này nhằm giúp người học tránh được lỗi khi viết để có bài viết bằng tiếng Việt tốt hơn.

Chắc chắn rằng do ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ mà người học có quốc tịch khác nhau sẽ gặp những khó khăn khác nhau khi học tiếng Việt. Khó khăn nhiều hay ít tuỳ vào đặc điểm của tiếng mẹ đẻ của họ khác với tiếng Việt nhiều hay ít. Điểm tương đồng nhiều thì có thể gặp nhiều thuận lợi, điểm khác biệt nhiều thì gặp nhiều khó khăn hơn hoặc có thể mắc nhiều lỗi sai hơn. Cũng như môn nói, viết là môn thực hành. Chỉ có thông qua thực hành thực tế thì mới phát triển kỹ năng được.

Tôi nhớ đến một quyển sách luận bàn về tiếng Việt của cô giáo sư Cao Xuân Hạo có tựa đề “Tiếng Việt - Văn Việt - Người Việt”. Có nhiều yếu tố khách quan khiến cho “Người nước ngoài” không thể hoàn toàn là “Người Việt” được. Dù sao họ cũng sẽ mắc lỗi sai nào đó khi học tiếng Việt, và chúng ta cũng vậy. Chúng ta cũng sẽ mắc lỗi sai nào đó khi học ngoại ngữ. Xuất phát từ quan điểm này, người học rất đáng được khích lệ và quan tâm. Nhiệm vụ của người giáo viên là giúp cho người học cải thiện được nhiều nhất trong phạm vi có thể. “Người nước ngoài” nhưng viết tốt “Tiếng Việt - Văn Việt” là một điều hoàn toàn có cơ sở thực hiện được. Và đây là một trong những mục tiêu phấn đấu đào tạo của chúng tôi.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Từ điển

[1] Lê Đức Niệm. Từ điển Nhật Việt. Nhà xuất bản Giáo dục 1993.

[2] Nguyễn Kim Thản, Hồ Hải Thuỵ, Nguyễn Đức Dương. Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia. Từ điển Tiếng Việt. Nhà xuất bản Văn hoá Sài Gòn 2006.

[3] Nguyễn Như Ý (chủ biên). Bộ Giáo dục và Đào tạo - Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hoá Việt Nam. Đại Từ điển Tiếng Việt. Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin 1999.

[4] SANSEIDO. Grand Concise Japanese-English Dictionary. 2003.

[5] TAKEUCHI YONOSUKE. Từ Điển Việt Nhật-Nhật Việt. Daigaku Shorin 1988 (竹内與之助. 越日日越合本辞典. 大学書林1988).

[6] VIETLEX - Trung tâm Từ điển học. Từ điển tiếng Việt thông dụng. Nhà xuất bản Đà Nẵng 2009.

 

Các nguồn khác

[7] TOMITA KENJI. Bàn về khôi phục chữ Hán trong tiếng Việt. Hội thảo Giao lưu Văn hoá Việt Nhật. Huế 2007.

[8] TOMITA KENJI. Betonamugo no Sekai. Daigaku Shorin 2000. (冨田健次.ヴェトナム語の世界. 大学書林2000).

[9] Tiếng Việt như một ngoại ngữ (Các vấn đề tiếng Việt cho người nước ngoài).Trường đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh - Trung tâm nghiên cứu Việt Nam - Đông Nam Á. Nhà xuất bản Giáo dục 1995.

[9a] Nguyễn Thiện Nam (1995). Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh. Một vài nhận xét và lý giải về lỗi dùng từ Hán Việt của người Nhật Bản (239-245).

[9b] Nguyễn Văn Phổ, Lê Thị Minh Hằng (1995). Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh. Vấn đề rèn luyện kỹ năng viết cho người nước ngoài học tiếng Việt (253-264).

[9c] Trần Thị Minh Giới, Thạch Ngọc Minh (1995). Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh. Mấy biện pháp giúp sinh viên nước ngoài khắc phục một số nhầm lẫn về ngữ pháp và cách dùng từ tiếng Việt (273-279).



[1] Mặc dù trong tiếng Nhật |giao thiệp (交渉)| cũng có nghĩa là “giao thiệp, ngoại giao” ví dụ như |giao thiệp chính trị] (政治交渉)|.

[2] Một số từ điển tiếng Việt gọi là liên từ hoặc những tổ hợp tương đương. Trong tiếng Nhật gọi là từ nối (接続詞).

[3] Trong trường hợp này có sắc thái nghĩa phê phán.

[4] Tiếng Nhật đúng phải là {URAIPAN O ATATAMETE TAMAGO O ATSUKU YAKU (フライパンをあたためて卵を厚く焼く)}

[5] Tiếng Nhật đúng phải là |TAKUSAN (たくさん): nhiều|

[6] Tiếng Nhật đúng phải là {AJI WA SAISHONI MIZU DE YOKU ARAI, SOREKARA NAIZOU O NOZOITE SHIOKOSHO O SURU (あじは最初に水でよく洗い、それから内臓を除いて塩胡椒をする)}

[7] Chữ “đậm” giống như trong câu “trời rét đậm”.

[8] Dự án từ điển được giáo sư TOMITA KENJI (Khoa tiếng Việt trường đại học Osaka-Nhật Bản) khởi xướng và chỉ đạo nhóm bắt đầu thực hiện từ năm 2006.

Nguồn: HỘI THẢO NGHIÊN CỨU VÀ GIẢNG DẠY TIẾNG VIỆT LẦN THỨ NHẤT
Ngày 26/02 - 28/02/2011. www.iatvnetwork.org.

Saturday, November 06, 2010

Some configs with Debian on BenQ U-102

- Wireless

# lspci
Network controller: Broadcom Corporation BCM4312 802.11b/g LP-PHY (rev 01)



Debian Squeeze (http://wiki.debian.org/wl)
1. Add a "non-free" component to /etc/apt/sources.list, for example:
# Debian Squeeze (testing)
deb http://ftp.us.debian.org/debian squeeze main contrib non-free

2. Update the list of available packages. Install the module-assistant and wireless-tools packages:
# aptitude update
# aptitude install module-assistant wireless-tools

3. Build and install a broadcom-sta-modules-* package for your system, using Module-Assistant:
# m-a a-i broadcom-sta

4. Blacklist the brcm80211 module, to prevent it conflicting for support of BCM4313, BCM43224 and BCM43225 devices:
# echo blacklist brcm80211 >> /etc/modprobe.d/broadcom-sta-common.conf

5. Rebuild your initial ramdisk, to blacklist modules defined at /etc/modprobe.d/broadcom-sta-common.conf within initramfs:
# update-initramfs -u -k $(uname -r)

6. Unload conflicting modules:
# modprobe -r b44 b43 b43legacy ssb brcm80211

7. Load the wl module:
# modprobe wl

8. Verify your device has an available interface:
# iwconfig

9. Configure your wireless interface as appropriate.


- Synaptics touchpad (http://wiki.debian.org/SynapticsTouchpad)
Debian squeeze, kernel 2.6.30-1, Xorg 7.4

If you are using a generic synaptic touchpad, but it fails to respond to tapping or scrolling actions under a new installation of Squeeze (as in testing), you can run the following two commands to immediately make it work:
modprobe -r psmouse
modprobe psmouse proto=imps

To make this change permanent, create a file such as touchpad.conf under /etc/modprobe.d/, and put the following line in it:
options psmouse proto=imps

You do not need to install gsynptics, synaptic, tpconfig or edit xorg.conf. All you need is passing the kernel options for module psmouse.


- No DNS autoupdate: using DNS from Google for accessing Fb in VN
In /etc/dhcp/dhclient.conf (not /etc/dhcp3/)

supersede domain-name-servers 8.8.8.8

Monday, August 03, 2009

9 năm email

Địa chỉ email đầu tiên được lập vào 8/3/2000, cách đây đúng 9 năm. Đó là một địa chỉ Yahoo và được người khác lập giúp. Lúc đó quý email như là quý thư tay, và những email quan trọng cũng thường được in ra. Cuối thư, dòng chữ "Do You Yahoo!?" cũng tạo cảm giác huyền bí lắm. Yahoo lúc đó cho 3 MB dung lượng, so với Hotmail lúc đó chỉ cho 2 MB. Sau đó Yahoo tăng lên 6 MB, rồi lại giảm còn 4 MB cho những email mới đăng kí. Sau khi Gmail xuất hiện với dung lượng lúc đầu đến 1 GB, Yahoo cho tăng lên 100 MB, rồi 1 GB, rồi vô hạn như hiện nay.